DẦU GỐC NHÓM II
- Dầu gốc nhóm II được tạo ra bằng cách sử dụng quy trình xử lý hydro-treating để thay thế quy trình tinh chế dung môi truyền thống. Khí hydro được sử dụng để loại bỏ các thành phần không mong muốn từ dầu thô. Do cấu trúc chứa ít lưu huỳnh, nito và mạch vòng nên dầu gốc nhóm II có màu trong suốt.
- Dầu gốc nhóm II có hàm lượng hydrocacbon no >90%, lưu huỳnh <0,03% và chỉ số độ nhớt trong khoảng 80-120. Do phân tử hydrocacbon đã được ‘no” hóa nên dầu nhóm II có tính chống oxy hóa tốt hơn. Dầu nhóm II có giá thành cao hơn nhóm I.
- Dầu gốc nhóm II thông dụng để sản xuất dầu động cơ có dộ nhớt SAE 10W-XX hay 15W-XX; hiện nay chiếm 85% dầu nhớt động cơ Diesel ở Châu Âu. Đặc tính của nhóm Dầu gốc này là có Độ nhớt động học cao có thể pha chế dầu động cơ Diesel tải nặng (Heavy Duty Diesel Oil) là loại dầu đòi hỏi độ bền của màng dầu bôi trơn cao (hay lớp film dầu giữa 2 bề mặt kim loại bền) do vận hành ở nhiệt độ cao (HTHS- High Temperature/High Shear) ở tốc độ thấp nhưng moment xoắn rất cao. Loại Dầu gốc này quan trọng với hàm lượng lưu huỳnh và hợp chất thơm đa vòng gần như không có nên có tính ổn định oxy hoá và bền nhiệt cao được pha với công thức Low/Medium SAPS.
- Tiêu chuẩn API thônng thường áp dụng là CI-4, CJ-4.

 

Top